optumsaygomdumbay ankara escort escort ankara ankara escort ankara escort escort ankara ankara escort escort ankara
Đà Lạt trong trái tim tôi
Home Bài viết về Đà Lạt Đà Lạt trong trái tim tôi
Đà Lạt trong trái tim tôi PDF. In Email
Viết bởi Administrator   
Thứ bảy, 19 Tháng 7 2014 08:41


Đà Lạt Trong Trái Tim Tôi

Kỷ Niệm Ngày Chào Đời Trường CTKD

Ngày Khai Giảng Khóa I Trường CTKD

Viện Đại Học Đà Lạt


Lời Nói Đầu :   Trong buổi họp mặt tại nhà anh Hoàng Văn Lộc, bốn anh Hoàng Văn Lộc, Nguyễn Văn Sơn, Nguyễn Quốc Khánh và Cao Đình Phúc cãi nhau ỏm tỏi về vấn đề nhà ở của anh Hoàng Ngọc Nguyên sau ngày 30 tháng 4 năm 1975.  Cả bốn anh đều nhận mình đã đến nhà Hoàng Ngọc Nguyên nhiều lần.  Nhưng không đồng ý được với nhau :  Căn nhà này thuộc quyền sở hữu của ai và sở hữu toàn ngôi biệt thự hay chỉ một phần.  Trần Phú Hữu xin kể một câu truyện liên quan đến Đức Khổng Tử.  Hữu kể như sau :  Hai đệ tử của Khổng Tử cãi nhau kịch liệt về một bài toán 4 X 8 =  ???.   Một anh cho đáp số 32, một anh cho kết quả 31.   Hai anh cãi nhau ngày này qua ngày khác,  nhưng không đi đến kết luận 4 x 8 = 31 hay 32.  Cuối cùng, hai anh đồng ý đưa vấn đề lên Đức Khổng Tử giải quyết và đồng ý đánh cuộc một con gà.  Đức Khổng Tử phán :  4 x 8 = 31.  Anh đưa kết quả 31 ôm gà ra đi.  Anh thua cuộc hậm hực hỏi Đức Khổng Tử :  Tại sao Thầy lại cho hắn thắng.  Đức Khổng Tử trả lời :  Hắn là thằng cãi chầy cãi cối, cho hắn thắng cho yên …  Từ đó anh nào cãi chầy cãi cối về vấn đề gì thì được anh em gọi là “ Thằng 31 “.

Trong buổi họp mặt tại quán cà phê Suối Đá, chúng tôi bàn về Tổ Chức 50 Năm Ngày Khai Giảng CTKD I.  Từ đây đến ngày tổ chức còn hơn 14 tháng, Cao Đình Phúc muốn ban tổ chức phải bàn chương trình cụ thể ngay.  Phúc đưa lý do :  Một “Thằng” CTKD I giải quyết vấn đề trong một ngày, hai “Thằng” trong một tháng, ba “Thằng” trong một năm, bốn “Thằng” thì vấn đề phải đưa lên Đức Khổng Tử giải quyết.  Do đó phải bàn ngay.

Trong bài Đà Lạt Trong Trái Tim Tôi có vấn đề nan giải liên quan đến cả khóa I CTKD :  Ngày Khai Giảng CTKD I được tổ chức tại đâu ?  Tại lầu 3 hay giảng đường Spellman.  Trước khi viết, tôi xin ý kiến của nhiều anh em đồng khóa.  Có hai anh, Lê Trọng Huấn và Phan Thạnh,  khẳng định : Lầu 3.  Một anh, Mai Kim Đỉnh, quả quyết :  Giảng Đường Spellman.  Dĩ nhiên cả ba anh đều đưa ra bằng chứng không ai có thể phủ nhận được.   Khoảng 10 anh được hỏi đều trả lời :  Không nhớ.  Mười anh này khuyên tôi nên hỏi thầy Trần Long, khoa trưởng đầu tiên của trường CTKD.   Tôi nghĩ, nếu hỏi thầy Trần Long thì có khi Đức Khổng Tử Trần Long cho “Thằng 31” thắng như câu truyện của Trần Phú Hữu.  Vả lại theo Cao Đình Phúc : Bốn “Thằng” khóa I CTKD thì vấn đề đã phải đưa lên Đức Khổng Tử giải quyết.  Vấn đề này liên quan đến cả khóa I do đó một mình Đức Khổng Tử không giải quyết được mà phải đưa ra một hội đồng gồm Phật Thích Ca, Chúa Jesus, giáo chủ Mahomed, Đức Khổng Tử. Cứ nhìn tình hình thế giới hiện nay thì chắc chắn hội đồng này không giải quyết được.  Có khi các tín đồ bênh giáo chủ của mình và gây thảm họa chiến tranh.  Để tránh vì một  vấn đề nhỏ mà gây ra tai họa lớn, tôi tự giải quyết vấn đề.

Tôi giải quyết vấn đề như sau.  Tôi tắm rửa sạch sẽ, lên giường nhắm mắt, tập trung ý chí, đưa hồn mình vê Viện Đại Học Đà Lạt ngày 27 tháng 9 năm 1964.   Trong giấc mơ, tôi thấy   : Mai Kim Đỉnh đang ngơ ngác đứng trên bậc thềm dẫn lên giảng đường Spellman.   Nguyễn Kim Hùng, Nguyễn Văn Sơn, Hồ Phán, Trương Duy Hào xuất hiện.  Hùng, Sơn, Phán, Hào vừa vẫy tay vừa la lớn : “  Tư Liệt, Tư Liệt.  Khai giảng tại lầu 3  …”  Tôi thấy : …  Cha Viện Trưởng,  thầy Trần Long, thầy Phó Bá Long, thầy Ngô Đình Long  từ con đường dốc đi xuống lầu 3.  Theo sau là từng cặp, một nam một nữ nắm tay nhau.  Nam mặc áo vét, thắt cà vạt.  Nữ thì mặc áo dài hay váy đầm, tay cầm một bông hoa.  Đi đầu là cặp Trần Quang Cảnh –  Võ Kim Thoàn, tiếp theo là cặp Lê Xuân Nho – Trần Thị Ngọc Lang.  Tiếp theo từng cặp Nguyễn Vân Cương - Trần Thị Kiểm, cặp Nguyễn Huỳnh Tân - Nguyễn Thị Việt, cặp Huỳnh Thoảng - Trần Thị Ngọc Anh,  cặp Phạm Hữu Tài - Nguyễn Ngọc Thiên Thơ, cặp Võ Văn Rọt - Nguyễn Thị Kim Xuyến cặp Thái Văn Lành - Nguyễn Thị Gấm, cặp Nguyễn Văn Vĩnh – Nguyễn Ánh Tuyết, cặp Nguyễn Phi Hùng - Đặng Thị Phương, cặp Nguyễn Đức Quang Du Ca - Nguyễn Thị Minh Thông.  Cuối cùng là bốn cặp Hoàng Ngọc Nguyên – Nguyễn Thị Phương,  Nguyễn Đình Cận  -  Nhan Ánh Xuân, Huỳnh Nhân Khiêm –  Lê Minh Hiếu (Sophie Hiếu), Vũ Văn Hải - Nguyễn Thị Kim Định.   Đoàn người đi thẳng vào hội trường lầu 3.  Bốn cặp Cận – Xuân, Hải – Định, Khiêm – Sophie Hiếu, Nguyên - Phương bước vào cửa.   Châu Tấn Xuyên, Võ Thành Xuân không biết từ đâu chạy đến ngăn không cho  Ánh Xuân, Sophie Hiếu,  Kim Định và Phương vào hội trường.   Xuyên nói :  Hôm nay là ngày khai giảng của khóa I, không phải là ngày đám cưới.  Khóa II khai giảng tháng 9 năm sau tại giảng đường Thụ Nhân …

Tôi mở mắt,  bàng hoàng và tự hỏi :  “  Lầu 3 là nơi tổ chức khai giảng khóa I CTKD sao ?  Không thể tin  được  “.

Thưa các bạn CTKD khóa I,  ngày khai giảng CTKD I tại lầu 3 hay giảng đường Spellman không quan trọng.  Quan trọng là nội dung bài viết.  Tôi cam đoan với các bạn 8o% bài viết là sự thật, chỉ 20% thêm mắn thêm muối cho bài viết dễ đọc.  Giấc mơ là truyện hư cấu.

Thưa các bạn CTKD I, anh Mai Kim Đỉnh hay anh chị nào có mắng :  Mày là Thằng 31 đến 1000 lần, tôi không giận mà cảm thấy vui.  Bắt chước Cao Đình Phúc mỗi lần bị anh em vạch trần về  tội cãi chầy cãi cối.  Phúc đứng dậy cười ha hả  và nói  :” Làm gì được nhau nào”.

Đêm hôm qua, tôi nằm mơ thấy vợ chồng Mai Kim Đỉnh.  Vẻ mặt Đỉnh vừa tư lự, vừa ưu tư.  Đỉnh nói với vợ :” Vân này, không biết Gìà Cơ ôm gà đi đâu mà nó không cho anh hay ?  Hắn quên Tư Liệt rồi chăng ? … “

Xin trả lời anh Mai Kim Đỉnh :  Tôi không ôm một con gà mà ôm hai con gà, một trống một mái.  Tôi gởi hai con gà cho Sơn Râu.  Sơn Râu bảo đảm với tôi rằng :  Đến Kỷ Niệm 50 Năm Ngày Chào Đời của Trường Chính Trị Kinh Doanh và Ngày Khai Giảng của Khóa I, sẽ có đàn gà đủ để đãi tất cả anh chị em về dự Kỷ Niệm 50 Năm Ngày Khai Giảng Khóa I.   Sơn còn tiết lộ :  Sơn sẽ nấu gà bảy món để đãi anh em.

Lời mở đầu dông dài chỉ để nói lên một điều : Đà Lạt mãi mãi trong trái tim tôi.  Những người bạn đồng môn trong thời gian tôi học tại Viện Đại Học Đà Lạt  là niềm vui ấm áp mỗi khi tôi nhớ về Đà Lạt.

Đà Lạt Trong Trái Tim Tôi :  Ngày Khai Trường

Tôi trở lại Đà Lạt không bằng máy bay.  Tôi đáp chuyến xe đò đến Nha Trang, rồi từ Nha Trang, tôi lên Đà Lạt bằng xe lửa.  Đoàn tàu ì ạch leo đèo bằng những bánh xe răng cưa.  Tôi nghe thân sinh  tôi nói về con đường xe lửa Tháp Chàm – Đà Lạt.  Ông nói :  Đây là kỳ công của người Pháp.  Kỳ công vì đoạn đường xe lửa Tháp Chàm – Đà Lạt chỉ có 84 kilomet mà phải mất ba mươi năm mới hoàn thành.  Bốn mươi ba cây số cuối cùng từ Sông Pha lên Đà Lạt mới có hệ thống đường rầy răng cưa.  Kỳ công vì trên thế giới chỉ có hai nước có đường xe lửa có bánh răng cưa.  Để hoàn thành con đường xe lửa Sông Pha -  Đà Lạt, người Pháp phải sử dụng kỹ thuật và vật liệu đặc biệt :  đầu máy là đầu máy hơi nước có bánh xe răng cưa, đường rầy, ốc vít làm bằng loại thép đặc biệt,  có ba đường ray,  đường ray ở giữa là đường ray răng cưa.

Đường đèo Bellevue chạy vòng vèo quanh một vùng toàn đồi núi và rừng thông.  Đèo Bellevue dài hơn đèo Hải Vân và đèo Cả.  Tôi không cảm thấy đèo Bellevue cao hơn đèo Hải Vân, mặc dù tàu chạy qua những vực sâu thăm thẳm.  Đèo Bellevue cũng có hầm nhưng không có nhiều hầm bằng đèo Hải Vân và không có hầm nào dài bằng hầm Sen (hầm số 1) của đèo Hải Vân.  Đèo Hải Vân và đèo Cả có biển, có núi, có đá, có cỏ cây hoa lá.  Đèo Bellevue chỉ có rừng, có núi, có cây lá và không biển, không hoa.  Tôi không hiểu tại sao đèo này có tên là Đèo Ngoạn Mục.  So với đèo Hải Vân và đèo Cả thì đèo Bellevue không đẹp bằng.

Bốn giờ chiều, tàu tới ga Bellevue ở quận Đơn Dương.  Tới nơi đây, tôi bỗng sững sờ và ngẩn ngơ.  Tôi bước vô thế giới khác hẳn.  Tôi cảm thấy nhẹ nhàng khoan khoái.  Những phiền muộn lo âu biến mất trong tôi.  Nhìn lại đoạn đường đi qua là một màu xanh của rừng thông tới tận chân trời.  Mùi thơm của núi rừng, của thông xanh và khí hậu lành lạnh thật nhẹ nhàng dễ chịu.  Đèo Hải Vân đẹp và đèo Bellevue cũng đẹp.   Mỗi đèo có vẻ đẹp riêng.  Trước đây tôi chưa nhận ra cái đẹp của đèo Bellevue vì tình cảm tôi dành cho đèo Hải Vân quá lớn.

Tôi tới ga Đà Lạt đã hơn năm giờ chiều.  Tôi vội vàng gọi taxi để tới Viện Đại Học Đà Lạt.  Tôi vô văn phòng để xin một chỗ ở trong Đại Học Xá.  Nhân viên văn phòng cho biết không còn chỗ ở trong Đại Học Xá.  Một nhân viên văn phòng bảo chúng tôi đến Lữ Quán Thanh Niên, nơi ông tỉnh trưởng tỉnh Tuyên Đức kiêm thị trưởng thị xã Đà Lạt đang ở đó để giúp đỡ sinh viên chưa có chỗ ở.  Chúng tôi ra đến Lữ Quán Thanh Niên.  Trung Tá Trần Văn Phấn, tỉnh trưởng tỉnh Tuyên Đức kiêm thị trưởng thị xã Đà Lạt, đang nói chuyện với khoảng hơn ba mươi người gồm cả mười người chúng tôi mới đến.  Trung Tá Phấn hứa sẽ giúp đỡ chúng tôi có chỗ ở.  Ông còn hứa sẽ giúp đỡ chúng tôi trong thời gian bốn năm chúng tôi học tại Đà Lạt.  Trung tá Phấn gọi bà Quản Lý Lữ Quán Thanh Niên.  Ông chỉ thị cho bà Quản Lý sắp xếp chỗ ở cho chúng tôi.  Tối hôm đó chúng tôi được sắp xếp ngủ trên giường sắt ngay trong phòng đại sảnh của Lữ Quán.

Tối hôm sau, chúng tôi xếp ghế thành vòng tròn. Tôi đếm được tất cả ba mươi sáu người.  Chúng tôi tự giới thiệu.  Chỉ có năm người mới bước lên đại học lần đầu.  Số còn lại đều đã học ở đại học ít nhất là một năm.  Nhiều người đã học đại học hai, ba năm và học nhiều phân khoa khác nhau.  Người lớn tuổi nhất trong bọn là anh Phan Chi Hoan hơn tôi tám tuổi.  Anh Hoan đã học qua các trường Dược, trường Khoa Học.  Ba mươi sáu người nói đủ giọng ba miền.  Ba mươi sáu người tới từ khắp nơi của bốn vùng chiến thuật.  Từ vùng địa đầu giới tuyến Quảng Trị đến quận Hà Tiên cực Nam của đất nước.  Sau phần tự giới thiệu, mỗi người kể một câu truyện.  Anh Hoàng Văn Lộc kể một câu truyện về chuyến đi tàu hỏa của anh từ Nha Trang vô Sài Gòn. Anh Lộc đi tàu không mua vé.  Vì đi tàu lậu vé nên anh phải tìm mọi cách trốn người soát vé.  Nửa tiếng mà tàu không đến được ga Sài Gòn nên nhiều người sốt ruột hỏi anh Lộc

- Tàu đến Sài Gòn chưa ? Sao tàu chạy chậm quá vậy anh Lộc?

Anh Lộc hiểu ý nên trả lời  :

- Bốn năm nữa tàu mới tới Sài Gòn.  Hôm nay mới là ngày đầu tiên.

Chuyến tàu của anh Lộc là chuyến tàu bốn năm.  Con tàu chở bốn năm kỷ niệm sống và học tại thành phố Đà Lạt thì làm sao tới ga được.

Hồ Phước Hải, người Long Xuyên, kể chuyện ông ngoại anh ta, điền  chủ ở Long Xuyên,  cởi áo khoác mặc cho tá điền đang bị lạnh vì mưa.  Cụ thân sinh của Hải  là Hướng Đạo Sinh.  Cụ tham gia kháng chiến và bị ám sát chết khi tuổi mới ngoài ba mươi.

Kha Tư Giáo sau khi giới thiệu họ tên, anh lấy cây đàn ghita và đánh khúc dạo đầu bài Đêm Đông của nhạc sĩ Nguyễn Văn Thương.  Anh cất giọng ca một cách tự nhiên thoải mái, không một lời giáo đầu .  Mọi người im lặng nghe anh hát.  Bài hát hợp với tâm trạng của mọi người xa nhà trong đêm lành lạnh, nhất là tôi mới đi xa nhà lần đầu, nhưng  không ai cảm thấy buồn.  Ba mươi sáu người đang quây quần thành một khối như đã quen nhau rất lâu.  Kha Tư Giáo vừa chấm dứt bài Đêm Đông, trong phòng vang tiếng vỗ tay, tiếng huýt gió, tiếng la bis bis bis .  Không nói một lời, Giáo hát tiếp bài Et Pourtant của Charles Aznavour .  Cách cư xử đầy tự tin, thân tình, không màu mè của một người có máu văn nghệ.  Kha Tư Giáo đối xử với mọi người như bạn bè thân nhau từ tuổi còn thơ của anh.

Đêm đó chúng tôi thức đến tận hai giờ sáng mới đi ngủ.  Đêm nay, tôi thấy một sự ấm áp khác thường của tình đồng môn.  Sự khác thường có lẽ là vì tôi ít được đi xa, ít được tiếp xúc với những cái khác biệt, cái mới lạ, với những người sẽ là đồng môn, nhưng tuổi đời, kinh nghiệm sống và kiến thức của họ vượt trội hơn mình.

Hôm sau, chúng tôi được đưa vô ở những phòng riêng, bốn người một phòng.  Chúng tôi ngủ trên giường hai tầng bằng sắt.  Không có bàn học, chỉ có giường ngủ. Bà quản lý dẫn chúng tôi xuống nhà ăn của Lữ Quán Thanh Niên.  Giá một bữa cơm thật rẻ,  tôi chưa thấy quán cơm nào giá rẻ hơn.  Ba đồng một phần cơm gồm món canh và món mặn.  Cơm ăn tự do.  Quán ăn đóng cửa chiều thứ bẩy và ngày chủ nhật.  Chiều thứ bẩy và ngày chủ nhật chúng tôi phải ăn cơm tại quán ăn tại bến xe thành phố với giá đắt gấp năm lần bữa cơm tại quán ăn Lữ Quán Thanh Niên.  Việc ăn ở coi như tạm ổn.

Buổi học đầu tiên của trường Chánh Trị Kinh Tế và Quản Trị Xí Nghiệp Viện Đại học Đà Lạt là ngày thứ hai, hai mươi bẩy, tháng chín, năm 1964.  Đến nay tôi vẫn còn cảm giác bùi ngùi, nuối tiếc khi nhớ hai bài tập đọc :  Ngày Khai Trường của nhà văn Thanh Tịnh và Buổi Học Cuối Cùng của nhà văn Anatole France.  Ngày xưa, các bạn tôi thường chỉ thuộc lòng bài tập đọc Ngày Khai Trường là trích đoạn của đoản văn Tôi Đi Học của nhà văn Thanh Tịnh.  Tôi thuộc lòng cả đoản văn này, từ đoạn đầu “Hằng năm cứ vào cuối thu, lá ngoài đường rụng nhiều và trên không có những đám mây bàng bạc, lòng tôi lại nao nức những kỷ niệm hoang mang của buổi tựu trường “ cho đến đoạn cuối của đoản văn “ Tôi vòng tay lên bàn chăm chỉ nhìn thầy viết và lẩm bẩm đọc :  Bài tập viết : Tôi đi học ! “  Nay mỗi khi nhắc đến bài Ngày Khai Trường, các bạn tôi thường chỉ nhớ một hai giòng :” Buổi sáng mai hôm ấy, một buổi mai đầy sương thu và gió lạnh.  Mẹ tôi âu yếm nắm tay tôi dẫn đi trên con đường làng dài và hẹp“.  Tôi không thuộc toàn đoản văn như ngày xưa, nhưng tôi vẫn còn thuộc nhiều đoạn tôi thích.

Ngày xưa, tôi thường thắc mắc :  Có phải ông Thanh Tịnh tả lại ngày Khai Trường thửa nhỏ của chính bản thân ông ở Huế hay không ?  Tôi thắc mắc vì tháng chín ở Huế trời vẫn còn nóng thì làm chi có một buổi sáng đầy sương thu và gió lạnh.  Sau này tôi học ở Huế, tôi đi khắp vùng Vỹ Dạ, Tây Thượng, Dưỡng Mông, Chợ Dinh, Bãi Dâu cho tới Chợ Nọ Dương Nỗ, tôi không tìm ra trường nào tên là Mỹ Lý ở làng Hoà An. Sau đó tôi được biết Mỹ Lý chỉ là một trường tưởng tượng, không có thật.  Nhà văn Thanh Tịnh đã lấy tên cúng cơm của người con gái đầu đặt tên trường.

Sáng nay, cả phòng tôi đều dậy sớm để sửa soạn đi học.  Chúng tôi từng tốp từ đỉnh đồi Lữ Quán Thanh Niên đổ xuống đường Võ Tánh.  Trên đường Võ Tánh từng tốp người đang thong thả đi đến Viện Đại Học.  Ngày khai trường hôm nay của tôi đẹp hơn hẳn ngày khai trường của ông Thanh Tịnh.  Trời lành lạnh không phải vì gió mà vì trời cho Đà Lạt cái lạnh thật thú vị.  Không có sương thu mà có nắng thu. Không có mây bàng bạc mà có bầu trời xanh màu ngọc bích.  Không có con đường làng dài và hẹp mà có con đường nhựa không lớn chỉ đủ cho hai chiếc xe hơi du lịch tránh nhau.  Không có những cô bé, cậu bé bỡ ngỡ thẹn thùng trong bộ quần áo mới nép bên cạnh mẹ cha mà có những nam thanh, nữ tú ăn mặc chỉnh tề chững chạc.  Con đường Võ Tánh rực sáng.  Đủ màu sắc xanh, vàng, tím, đỏ, đen, xám của những  áo len, áo manteau, áo pardessus, áo vét, khăn quàng cổ.  Không có tiếng khóc thút thít mà có những tiếng cười, tiếng nói, tiếng chào, tiếng hỏi.  Một anh chàng và một cô làm mọi người chú ý.  Anh chàng làm mọi người chú ý không phải vì gương mặt anh ta phúc hậu, đẹp trai, ăn mặc bảnh bao trong bộ vét kiểu Kennedy.   Mọi người chú ý anh ta vì mặt anh ta như thoa một lớp phấn hồng, tay anh ta cầm một cây dù đen cán dài.  Anh ta đứng cạnh một cô tóc xõa ngang vai, mặc áo len tím, khăn quàng cổ màu xanh lá mạ.  Hai anh chị giống như hai tài tử đóng phim.  Tôi bỗng nghe giọng Huế chay :

- Hai mệ chưa đi còn chờ ai rứa ?

- Còn sớm, đi chi vội

- Không đi sớm thì làm răng tìm ra chỗ ngồi.  Cả ngàn người ghi danh.

- Ngày đầu mà lo chi.  Học cả năm chứ mô có phải học một ngày.

Đúng là tác phong an nhàn của con vua, cháu chúa.

Trước cổng viện, năm chiếc xe Lam đang đổ sinh viên xuống.   Trong viện người đông như đi chẩy hội.  Tiếng cười nói, tiếng gọi nhau đủ giọng Bắc, Nam, Trung.  Đi qua cổng viện, tôi nghe một anh nói :

-     Cha Viện Trưởng.

Nghe anh nói, nhiều người đưa mắt nhìn về phía cửa văn phòng Viện.  Một vị linh mục mặc áo chùng đen đang nói chuyện với bốn sinh viên.  Nhìn cha Viện Trưởng về tổng quát, cha là người phúc hậu.  Thân hình cha to, cao và đường bệ uy nghi. Về chi tiết thì cha có ba điểm đập vô mắt tôi lúc đó :  Trên khuôn mặt chữ điền hồng hào có vầng trán cao, đôi mắt sáng sau cập kính trắng, nụ cười tươi và đôn hậu. Điểm thứ hai là cái bụng to và tròn giống như bụng bao dung của ông Địa.  Điểm thứ ba là cha cầm một điếu thuốc lá màu đen to và dài hơn những điếu Paul Mall, Salem nhưng không phải là điếu xì gà.

Tôi theo dòng người đi đến nơi làm lễ khai giảng.  Tôi đứng trước giảng đường.  Trên hành lang, nhiều sinh viên đi qua lại vì trong giảng đường đã chật cứng đến nỗi nhiều sinh viên ngồi trên thành cửa sổ.  Giảng đường không có bảng tên.  Tôi nghe một anh sinh viên ở trong Đại Học Xá nói như là người am hiểu nhiều về trường Chánh Trị Kinh Tế và Quản Trị Xí Nghiệp:

- Đây là lầu III, không phải giảng đường.  Có năm lầu :  Lầu I , II, IV, V dành cho sinh viên nội trú,  lầu III là lầu dùng cho việc hội họp sinh hoạt vui chơi của sinh viên đại học xá,  hôm nay được dùng tạm cho ngày khai giảng.  Giảng đường dành cho trường Chánh Trị Kinh Tế và Quản Trị Xí Nghiệp là Giảng đường Thụ Nhân đang được sửa chữa.  Một tháng nữa mới xong.  Đông sinh viên như thế này thì phải học tạm ở giảng đường Spellman hoặc lầu III cho đến khi giảng đường Thụ Nhân sửa xong.

Không vô được bên trong giảng đường, tôi phải đứng ngoài hành lang. Tôi nhìn vô giảng đường qua vai những người ngồi trên cửa sổ.  Tôi chỉ nhìn được mặt của cha Viện Trưởng Nguyễn Văn Lập.  Ngài đang nói.  Ngài nói, tôi nghe câu được, câu không vì quanh tôi nhiều người nói chuyện.  Thỉnh thoảng tôi nghe những tràng pháo tay và những tràng cười tán thưởng của sinh viên trong hội trường.  Tôi loáng thoáng nghe cha Lập nói về hai chữ Thụ Nhân và kế hoạch trồng người.  Tôi nghe ngài nói đến chữ Thụ Nhân ít nhất là ba lần.  Tôi thấy một chỗ trống trên cửa sổ.  Tôi vội vàng điền vô chỗ trống của một anh bạn vừa tìm được một chỗ trong giảng đường.  Bốn người chúng tôi ngồi trên cửa sổ, chân thòng vô trong giảng đường.  Trong phòng chật cứng người, những cửa sổ cũng chen chúc người ngồi, ngoài hành lang nhiều người đứng nhìn vô phòng.  Một ngày khai giảng hiếm có. Bây giờ tôi mới nghe rõ những lời cha Lập nói,  đúng lúc ngài nói lời kết luận. Ngài nói :  “ … Thụ Nhân là tôn chỉ của Viện Đại Học Đà Lạt .  Cha nhắc lại Thụ Nhân là tinh thần và lý tưởng của Viện Đại Học Đà Lạt nghĩa là của tất cả anh chị sinh viên viện Đại Học Đà Lạt gồm Văn Khoa, Khoa Học, Sư Phạm, Thần Học không phải của riêng trường Chính Trị Kinh Tế và Quản Trị Xí Nghiệp.  Thụ Nhân nghĩa là Trồng Người .  Làm kế hoạch cho trăm năm, nghĩa là cho tương lai, thì không gì bằng trồng người .  Vì thế cha muốn nói lên cho sinh viên một mục tiêu cuộc sống của mình là phải làm cho mình có một tư cách để sau này trở nên cây cổ thụ giúp ích cho đời, cả về phương diện học thức, cả về phương diện đạo đức, cả về phương diện thể chất ..”

Cha Viện Trưởng dứt lời.  Cha Viện Trưởng giới thiệu giáo sư Vũ Quốc Thúc.  Hội trường bừng dậy những tràng vỗ tay nồng nhiệt để chào mừng một nhà kinh tế, một giáo sư kinh tế nổi tiếng.  Giáo sư Vũ Quốc Thúc nói :  “… Nhiều người thường ngộ nhận cho rằng một chuyên viên về kinh tế thường chỉ chú trọng đến những vấn đề rất thực tế liên quan đến quản trị xí nghiệp, kinh doanh, đầu cơ, đầu tư .. vân vân..  Đó là một sự ngộ nhận.  Kinh tế học ngay từ lúc ngành học này mới khai sinh vào thế kỷ mười bẩy ở Âu Châu đã mang nặng tính cách chính trị học.  Tên gọi đầu tiên của ngành học được gọi là Economy Politics tức là Kinh Tế Chính Trị Học chứ không dùng riêng chữ Kinh Tế.  Trong chương trình năm Cao Học của môn Kinh Tế Chính Trị Học năm 1948 và ngày nay vẫn còn áp dụng có hai môn chủ chốt.  Một môn là Lịch Sử Các Học Thuật Kinh Tế.  Sau này được nới rộng ra thành môn Lịch Sử Tư Tưởng Kinh Tế.  Môn học chủ chốt thứ hai là Lịch Sử Các Sự Kiện Kinh Tế.  Điều đó nói lên sự liên lạc mật thiết giữa sinh hoạt kinh tế với chính trị trong một quốc gia và liên lạc rất mật thiết giữa chính sách quốc gia với lịch sử …“.

Giáo sư Vũ Quốc Thúc nói về môn học  Kinh Tế Chính Trị Học tại các đại học danh tiếng của Pháp.  Sau đó giáo sư Vũ Quốc Thúc nói về sự chậm trễ của ngành học này tại nước ta.  Bây giờ chúng ta mới có một đại học dạy khoa Kinh Tế Chánh Trị.  Trường Chánh Trị Kinh Tế và Quản Trị Xí Nghiệp của Viện Đại Học Đà Lạt là trường đầu tiên dạy môn Kinh Tế Chánh Trị tại nước ta.   Giáo sư kết luận :  Một kinh tế gia, một nhà quản trị xí nghiệp cần phải hiểu biết về chánh trị .  Một chánh trị gia cũng cần phải hiểu biết về kinh tế và quản trị .  Kinh tế và chánh trị là hai lãnh vực liên lạc mật thiết với nhau.  Môn học mới và cần thiết cho đất nước ta vì vậy môn học này sẽ mở ra tương lai tốt đẹp cho sinh viên theo học.  Giáo sư Vũ Quốc Thúc đã gây sự phấn khởi và tin tưởng cho chúng tôi.

Nghỉ giải lao, mọi người tụ họp thành nhóm ba người,bốn, năm người, có nhóm đông đến hơn mười người.  Tiếng cười, tiếng nói ồn ào như vỡ chợ.  Tôi đi tới nhiều nhóm để hóng chuyện và tìm người quen.  Tôi ngạc nhiên,  mọi người quen nhau rất nhanh như đã biết nhau từ trước. Đến hóng chuyện tại nhiều nhóm, tôi được biết có rất nhiều bạn nhỏ tuổi hơn tôi và bước vô ngưỡng cửa đại học lần đầu.  Tôi được một anh bạn chỉ cho tôi người nhỏ tuổi nhất trường.  Anh ta sinh năm 1947.  Vừng trán rộng, mắt sáng tinh anh, cử chỉ chững chạc, anh ta toát ra của người tuổi trẻ tài cao.  Tôi đoán, anh học nhẩy ít nhất một lần hay hai lần.  Sinh năm 1947, anh ta đậu tú tài hai lúc mới mười bảy tuổi.  Anh ta như già trước tuổi.  Tôi nghe một anh bạn nói: ”Học quá thì già sớm, vừa học vừa chơi như mỏa, sinh năm bốn mươi lăm mà vẫn trẻ hơn nó “.

Tôi được nói chuyện với hai sinh viên từ Lào đến học.  Hai anh đều là người Việt Nam sinh sống ở Vạn Tượng lâu năm.  Một anh đã nhập quốc tịch Lào có tên Lào là Nathavong, một anh vẫn giữ quốc tịch Việt Nam tên là Lê Trọng Huấn .  Anh Huấn kể với tôi rằng :” Anh và Nguyễn Minh Khôi, người có tên Lào là Nathavong, là bạn học cùng lớp. Cả hai vừa đậu tú tài hai.  Mộng của  hai anh là phải đạt được mảnh bằng đại học, ít nhất là bằng cử nhân.  Vạn Tượng chưa có Viện Đại Học.  Cả hai đều có mộng đi du học Pháp.  Huấn xin học bổng đi Pháp không được vì không có quốc tịch Lào.  Nathavong bị bác đơn xin du học Pháp.  Một hôm Nathavong đến gặp Huấn.  Nathavong nói:

- Tao đến để từ giã mày.  Mai tao về Việt Nam.  Tao được học bổng sang Việt Nam du học.

- Mày về Việt Nam học nghành gì ?

- Chánh Trị Kinh Tế và Quản Trị Xí Nghiệp, Viện Đại Học Đà Lạt.  Một ngành học mới ở Việt Nam.

Nghe nói đến Đà Lạt,  mắt Huấn rực sáng. Huấn nhớ lại một chuyến đi nghỉ mát tại Đà Lạt hai năm trước trong dịp về thăm quê nhà.  Học tại Đà Lạt có khi Huấn gặp lại cô bé Thùy Linh xinh xắn, nữ sinh trường Yersin.  Huấn nói với Nathavong:

- Mày dời lại ngày đi được không ?

- Mày muốn học như tao ?

-

- Thế thì được

Huấn và Nathavong vội vàng đi vô tòa Đại Sứ Việt Nam để nhờ bác Hùng đánh điện tín về Viện Đại Học Đà Lạt xin ghi danh Văn Khoa Pháp và năm I Chánh Trị Kinh Tế và Quản Trị Xí Nghiệp  cho Huấn.  Cùng ngày hôm đó, Huấn đến sở xin nghỉ việc.  Huấn là một thanh niên lịch lãm, xoay trở cuộc đời dễ như trở bàn tay.  Mới học lớp đệ nhị, Huấn đã làm nghề thông dịch cho một công ty Mỹ và dạy toán cho một trường trung học.  Tôi thầm phục anh chàng Lê Trọng Huấn tuổi trẻ, tài cao, chí lớn.

Trường tôi không phải chỉ có hai sinh viên du học mà ba sinh viên du học.  Anh thứ ba, tôi không được gặp.  Tôi chỉ nghe một anh bạn kể lại.  Anh sinh viên du học này đến từ Nam Vang.  Ba sinh viên đều là người Việt Nam nhưng sinh sống ở Lào và Campuchia.

Một  nhóm năm sáu sinh viên làm tôi chú ý vì sự kín đáo và trầm lặng. Nhóm này không nói năng cười đùa to và thoải mái như các nhóm khác.  Nét mặt và họ tên của những sinh viên này như Thạch, Tiền, Ngụy, Tiêu … cho tôi biết các anh sinh viên này là người Việt gốc Hoa .  Một anh sinh viên trong nhóm này, Trần Hi Dân, đã cùng gia đình trốn thoát Trung Hoa Lục Địa năm 1949. Gia đình anh đến được Hương Cảng sau nhiều tháng chạy trốn quân Cộng Sản Trung Hoa đầy cam go, gian nan và nguy hiểm.  Sau đó gia đình anh đến cư ngụ tại Chợ Lớn.  Anh học trường Tabert.  Anh ta nói tiếng Việt trôi chẩy không thua gì tôi.

Điều làm tôi ngạc nhiên.  Đà Lạt là phần đất của Cao Nguyên Trung Phần.  Cao Nguyên Trung Phần là núi rừng của đồng bào Thượng.  Vậy mà trong số hơn một ngàn sinh viên ghi danh chỉ có một sinh viên người Thượng.  Tên anh là  Ngụy Văn Cứng.  ( Ghi chú :  Tôi viết :  Vậy mà trong số hơn một ngàn sinh viên ghi danh không có đến một người Thượng. Sơn Râu sửa : Vậy mà trong số hơn một ngàn sinh viên ghi danh chỉ có một người Thượng là Ngụy Văn Cứng.  Tôi nói :  Người Thượng hiếm có họ Ngụy. Họ Ngụy là họ của người Hoa.  Khóa I có Ngụy Ngâu là người Việt gốc Hoa.  Chữ lót Văn là chữ lót phổ biến của người Việt.  Tên Cứng không phải tên của người Thượng.  Sơn Râu trả lời nguyên văn : Ngụy Văn Cứng to con, nước da ngăm đen, mặt nhiều mụn,  nói tiếng Việt không rành. Ngụy Văn Cứng người Jarai Pleiku, ở nhà 79 Võ Tánh, trên lầu, ngay trên phòng của Nguyễn Tường Cẩm. Nó học có 1 năm, rồi vào Quốc Gia Hành Chính theo chính sách đào tạo người dân tộc để sau đó đưa về tỉnh hoặc Bộ Phát Triển Sắc Tộc. Tao chịu hoàn toàn chịu trách nhiệm :  Ngụy Văn Cứng là người Thượng không phải là người Kinh hay người Hoa. Trong cuộc điện đàm giữa tôi và  Nguyễn Tường Cẩm, Cẩm xác định có sinh viên Ngụy Văn Cứng.  Cẩm không liên lạc được nên không đưa Ngụy Văn Cứng vào kỷ yếu khóa I ).

Sau giờ ra chơi, giáo sư Trần Long, giám đốc học vụ, nói về chương trình học bốn năm phỏng theo chương trình của đại học Harvard, Hoa Kỳ.  Bốn năm đó là Nhập Môn, Khái Luận, Nhiệm Ý, Sưu Khảo.  Sau khi tốt nghiệp Cử Nhân, sinh viên sẽ được tiếp tục học ban Cao Học trong hai năm.  Giáo sư Trần Long nhấn mạnh đến phương pháp giảng dạy thiên về thực hành của các phân khoa Thương Mại Viện Đại Học Harvard  hơn là giảng dạy từ chương của nền giáo dục hiện tại của ta.  Sinh viên sẽ được phân thành các toán thảo luận.  Toán thảo luận đi đến các nông trại, các xí nghiệp, các cơ quan để học hỏi, phỏng vấn và thảo luận.  Sinh viên cũng được gửi vào làm việc tại các xí nghiệp, công sở để thực tập và học hỏi kinh nghiệm.  Nhà trường sẽ mời các nhà quản trị, kinh tế gia, chính trị gia đến viện diễn thuyết thảo luận.  Về phương diện đời sống của sinh viên, ban lãnh đạo Viện hiểu rõ rằng đa số sinh viên là những người ở địa phương khác tới Đà Lạt. Viện cố gắng chăm lo tinh thần và vật chất cho sinh viên như tạo thêm nhiều chỗ ở trong Đại Học Xá, cấp học bổng cho sinh viên nghèo … “.

Ngày khai giảng hôm nay, tôi gặp nhiều bạn nhỏ tuổi hơn tôi, tôi gặp những anh lớn tuổi hơn tôi.  Phần lớn họ đều chững chạc, kiến thức rộng.  Điều này khiến tôi vừa hy vọng vừa đầy lo lắng. Tôi tự hỏi, không biết tương lai mình sẽ về đâu ? không biết trường Chánh Trị Kinh Tế và Quản Trị Xí Nghiệp có giúp được tôi kiếm được công việc tốt trong tương lai ?

 

Quang Già Cơ

Cập nhật ngày Thứ ba, 22 Tháng 12 2015 05:25